Vì sao nước Hồ Gươm xanh, tại sao phố Tràng Tiền là con phố duy nhất của Hà Nội có mái hiên che kín vỉa hè tới những món quà sáng, những con phố… của Hà Nội tuy đã rất quen thuộc nhưng sẽ được nhà văn Nguyễn Ngọc Tiến kể cho chúng ta một Hà Nội rất khác, tuy lạ mà quen.
VÌ SAO NƯỚC HỒ GƯƠM CÓ MÀU XANH
” Hà Nội chiết tự Hán Việt có nghĩa là “trong sông” . Nhưng không chỉ có sông Hồng, sông Đáy , sông Tô Lịch mà Hà Nội xưa còn bao quanh bởi các sông Kim Ngưu, Thiên Phù . Trong lòng Hà Nội còn có rất nhiều hồ. Phía Bắc có Hồ Tây, dịch sang phía Đông một chút có hồ Mã Cảnh, hồ Hàng Than, Huyền Thiên, xuống một chút là hồ Mã Cảnh , hồ Hàng Than, Huyền Thiên, xuống một chút là Diên Hưng rồi Lạc Thuỷ….
Đời nhà Trần, Phạm Sư Mạnh có bài “Vịnh tháp Báo Thiên.” Vì nước hồ có màu xanh lục gần như mực nên trong bài có câu :
“Ta tới đây muốn dầm ngòi bút đề thơ
Phải giữ cho dòng nước làm nghiên mực.
Tuy nhiên người xưa cũng không biết vì sao nước hồ lại có màu xanh. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, khi giặc Minh vào Thăng Long, chúng phá nhiều công trình văn hoá, dỡ mấy tầng tháp Báo Thiên lấy đồng đúc súng. Lê Lợi đuổi giặc Minh ra khỏi Đại Việt, vào Thăng Long lên ngôi thì Lục Thuỷ bắt đầu thay đổi. Truyền thuyết về Lê Lợi trả gươm báu cho thần Kim Quy có nhiều dị bản song bản được lưu truyền phổ biến trong dân gian & sau này được nhiều sách chép có đoạn Sau khi đánh tan giặc Minh, một hôm Lê Thái Tổ ngồi trên thuyền rộng dạo chơi, thần Kim Quy nổi lên , ngài hiểu thần muốn lấy lại gươm báu trước kia thần đã cho mượn đánh giặc Minh. Khi ngài rút gươm khỏi vỏ, lập tức thanh gươm bay về phía thần Kim Quy, thần nhận thanh gươm rồi từ từ lặn xuống . Từ đó dân gian gọi la hồ Lục Thuỷ là hồ Hoàn Kiếm (hay hồ Gươm).
Thực dân pháp đánh thành Hà Nội lần thứ 2 năm 1882, chiếm trọn Hà Nội cuối năm 1883. Theo cuốn Une campagne au Tonkin (Một chiến dịch ở Bắc Kỳ) , tác giả Hocquard lúc đó có mặt ở Hà Nội ghi chép rằng những năm 1883 – 1884 , “nhà dân chen chúc sát mép hồ, đường đi lầy lội, cầu ao bắc ra hồ để tắm giặt và rửa rau, vo gạo”. Công sứ Bonnal thực hiện lên kế hoạch sửa sang lại khu vực hồ Gươm đã di dân các làng để làm đường vòng quanh hồ & khánh thành con đường này đầu năm 1893. Từ đó hồ Gươm mang dáng vẻ khác, từ viên ngọc thô được gọt rũa trở thành viên ngọc tinh như ngày hôm nay.
Thời Pháp thuộc, báo Phong hoá có bài viết lý giải vì sao nước hồ Gươm có màu xanh. Tác giả dựa theo phát hiện của nhà địa chất Pháp cho rằng ở tầng sâu khu vực Hà Nội có mỏng đồng lớn, vì thế oxit đồng ngấm vào mạch nước chảy lên khiến nước hồ có màu xanh. Không tin vào lập luận này, một số nhà sinh vật học người Pháp đã bỏ công nghiên cứu với giả thuyết rằng có 1 loài vi sinh vật nào đó làm nước hồ có màu xanh, tuy nhiên vì nghiên cứu không đến nơi đến chốn nên họ không tìm ra nguyên nhân. Câu chuyện bị lãng quên cho đến năm 1960 khi giáo sư, viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học Hungary là Tibor Ortobadi sang Việt Nam công tác. Ông là Viện trưởng Viện sinh lý thực vật Hungary & là chuyên gia về tảo. Ông lấy mẫu nước Hồ Gươm mang về phòng thí nghiệm ở Hungary phân tích. Kết quả là Tibor phát hiện ra hơn 20 taxon (dưới loài) ở hồ Gươm trong đó có tảo xanh (lục tảo) , loài tảo này làm cho nước có màu xanh. Đây là loại tảo mới & chưa có nhà khoa học nào trên thế giới phát hiện ra. Sau đó ông cho đăng lên tạp chí khoa học quốc tế & tặng kết quả nghiên cứu này cho Việt Nam. Do chiến tranh cũng như nhiều nguyên nhân, kết quả nghiên cứu ông tặng cũng không còn, chỉ có 1 vài nhà khoa học biết vì sao nước hồ Gươm có màu xanh lục. Cuối năm 2017, Hà Nội tiến hành nạo vét hồ vì bùn dưới đáy hồ quá nhiều làm ô nhiễm nước, không còn khả năng tự làm sạch. Khi nạo vét , người ta cũng tính khoan giếng để lấy nước ngầm cung cấp cho hồ. Nhiều người lo lắng sau nạo vét nước hồ có màu xanh nữa hay không. Tuy nhiên 8/2018, nước hồ sau 1 thời gian lờ đờ đã trở lại màu xanh lục như nghìn năm trước.
CON GÁI HÀ NỘI
” Đàn ông xứ Việt được ví như cái cột trụ đỡ trong gia đình, họ gánh vác công to việc lớn, đối nội đối ngoại. Còn đàn bà lo sinh đẻ , bếp núc, làm việc râu ria. Nhưng đàn ông ở kinh đô thì vợ nuôi, việc chính của họ là đèn sách
“Cầu Vuông một tháng 4 phiên
Để em seo giấy cho chàng bút nghiên.”
Trong chế độ phong kiến Việt Nam, tiền Đại Việt đúc bằng đồng, không có giá trị thanh toán đối với các nhà buôn nước ngoài nên sinh ra nghề đổi tiền ở Thăng Long. Các nhà buôn nước ngoài mua sơn ta, tơ tằm, quế… phải đổi bạc hay tiền Mexico lấy tiền đồng Đại Việt để trả cho người bán hàng. Ngược lại nếu mua hàng của thương nhân ngoại quốc , nhà buôn trong nước cũng phải đổi lấy đồng bạc để thanh toán. Làm nghề đổi tiền hầu hết là đàn bà. Không cần bàn tính lạch cạch gạt lên gạt xuống như mấy hiệu buôn Hoa Kiều, cũng chẳng cần biết tiếng Anh, tiền Bồ Đào Nha… song họ tính toán không bao giờ nhầm. William Dampier là nhà hàng hải người Anh , ông đến Thăng Long năm 1688, về nước ông viết một cuốn “Một chuyến du hành đến Đàng Ngoài 1688″. Về nghề đổi bạc ông viết ” Đổi tiền là 1 nghề quan trọng ở đây. Làm nghề này là phụ nữ, họ là những người khéo léo & khôn ngoan đặc biệt. Họ thực hiện công việc về đêm & cách biết sinh lời giỏi chẳng kém các nhà buôn cổ phần tinh khôn nhất ở London.” Cuốn Chuyện cũ bên dòng sông Tô của Nguyễn Công Chí kể về cụ Diên Thái ở phố Hàng Ngang. Thế kỷ 18, cụ làm giàu nhờ buôn chè , thuốc lào mà mua được chục mẫu ruộng ở quê. Cụ Diên Thái còn mời thầy Phạm Đình Hổ về dạy chữ, dạy đạo cho con.
Nửa cuối thế kỉ 19, Hà Nội có 2 hai đại phú là bà Cống Sùng và Cống Vẽ. Dân chúng Hà Nội có câu “Nhất Cống Sùng, nhì Cống Vẽ.” 2 bà nuôi chồng an học đỗ hương cống nhưng không ra làm quan. Bà Cống Vẽ chuyên buôn bán sợi gai , bao gai ở phố Hàng Gai, còn bà Cống Sùng chuyên buôn bán bông , nguyên liệu quan trọng làm ra vải, chăn, áo ấm ở phố hàng Bông.
Hà Nội còn có bà Lê Thị Lễ, nhà yêu nước Lương Văn Can, theo nghề buôn của mẹ, buôn bán đảm đang, cấp tiền cho chồng dựng trường Đông Kinh Nghĩa thục. Đầu thế kỷ 20 có bà Hoàng Thị Minh Hồ, vợ ông Trịnh Văn Bô, 1 nhà tư sản yêu nước, buôn bán rất tháo vát. Hà Nội có bà Vương Thị Lai, 1 tay quản lý nhà máy thuộc da.
Xưa con gái nhà giàu cũng ít học chữ, chủ yếu toàn học nữ công gia chánh, ấy thế mà các bà tính toán như thần. Trời phú cho bà giỏi tính, hay đàn bà Việt có gen buôn bán? Sinh thời bà Hoàng Thị Minh Hồ kể, :”Sau này buôn lớn lại mở nhà máy nên mới tuyển ký, trước đó buôn tơ lụa, tôi tính nhẩm hết , không ăn gian của ai 1 xu, cũng không ai ăn được của tôi 1 xu”. Các bà buôn bán = chữ tín. Con gái Hàng Ngang, Hàng Đào, Hàng Đường, Hàng Gai… xưa buôn bán giỏi đến mức họ có quyền chọn chồng , nên mới có câu ” Phi cao đẳng bất thành phu phụ” . Nghĩa là không học cao đẳng đừng nghĩ đến việc lấy con gái phố Hàng.
Buôn bán giỏi giang nhưng các bà lại biết thương người nghèo, thương thật chứ không phải thương mồm , thương suông. Và hình như thương xót kẻ nghèo cũng là đặc tính của phụ nữ Hà Nội, trở thành truyền thống. Có khi ăn mày vào chợ, các bà đều bỏ vào nón vài đồng, có khi là tấm bánh nên mới có ca dao:
“Đông Thành là mẹ là cha
Đói cơm áo rách thì ra Đông Thành.”
Thế kỷ 19, ở Hà Nội có 1 người đàn bà goá chồng giàu có tên là Lê Thị Mai. Buôn bán tài giỏi nhưng bao nhiêu tiền lãi bà đều đem làm từ thiện . Bà xây nhà trọ cho học trò nghèo về các tỉnh Hà Nội học mà không lấy 1 đồng xu, trò nào hết gạo bà cho gạo. Nghe tin đâu vỡ đê, hạn hán là bà mua thóc gạo mang đến cứu trợ. Đầu thế kỉ 20 có bà Hoàng Thị Uyển (bà Cả Mọc), chồng mất bà ở vậy rồi đi bán tơ lụa Hàng Ngang . Dân đâu đói bà bỏ tiền mua gạo rồi nhờ thanh niên cứu giúp. Đến thập niên 30, bà mua đất ở Hàng Đũa , xây trường mở nhà trẻ miễn phí. Đây là nhà trẻ đầu tiên ở Đông Dương . Chuyện đến tai vua Bảo Đại, ông tặng sắc phong nhưng bà không nhận. Năm 1945, bà mua đất ở Sóc Sơn xây nahf dưỡng lão, mời người già không nơi nương tựa về ở. Hay tin, Bác Hồ mời lên Bắc Bộ phủ uống trà, cám ơn tấm lòng của bà với đồng bào nghèo. Các bà Cống Sùng, Cống Vẽ , bà Hoàng Thị Minh Hồ, bà Vương Thị Lai… cũng đều bỏ rất nhiều tiền làm việc thiện…
Giỏi buôn bán , phụ nữ Hà Nội còn có những cách làm đẹp thật đặc biệt. Richard là thầy tu người Anh, ông sang Đại Việt và sống ở Thăng Long nhiều năm, viết cuốn Lịch sử tự nhiên, dân số và chính trọ ở Đàng Ngoài. Về phụ nữ Thăng Long , Richard viết ” Vào mùa đông, cái áo bên ngoài họ mặc tưởng là màu sẫm nhưng giấu bên trong là 1 tủ quần áo đủ màu sắc, mỗi màu hở ra 1 tí như khoe với đám đàn ông và chứng tỏ đẳng cấp và sự chơi hơn các cô gái bình dân.” Đạo đức Nho giáo rất khắt khe, nhưng họ biết cách khoe mà thiên hạ không thể đàm tiếu được. Thời Hậu Lê, hàng Đào có đình Yếm Thị, nơi không chỉ bán yếm mà còn bán đủ thứ dành riêng cho phụ nữ, từ vải, lụa đến đồ trang sức. Ở kinh thành, cái yếm của phụ nữ bình dân màu trắng, con gái nhà quan & nhà giàu màu hồng , còn yếm màu hao đào bị cho là lẳng lơ, không đứng đắn, nhưng khối cô vẫn mặc. Không chỉ yếm cổ quả tim mà còn có loại yếm trễ, hở cổ. Rồi váy cũng lắm kiểu , từ váy trơn đến váy có nếp gấp , váy lĩnh. Từ áo tứ thân đến áo năm thân, từ khăn lụa trơn sang khăn gấm màu. Chạy theo cái biết mặc của con gái kinh thành nên các hàng dệt đã tạo ra the, lĩnh , lượt… đáp ứng nhu cầu của quý bà, quý cô. Mốt theo thời của các bà buôn bán là áo dài, thắt lưng đào , lại đeo 1 bộ xà tích bằng bạc và chùm chìa khoá.
Cuối thế kỉ 19, khi thực dân Pháp xâm lược Hà Nội, kéo theo sự đổ bộ của hàng hoá phương Tây, trong đó có nước hoa. Trong cuốn chiến dịch ở Bắc Kỳ, tác giả là bác sĩ Hocquard mô tả 1 cửa hàng bán nước hoa ở phố Bát Sứ xúm xít phụ nữ Hà Nội vào thử mùi & mua.
Trong nửa đầu thế kỷ 20, Việt Nam vẫn chịu ảnh hưởng nặng nề của Nho giáo, phụ nữ bị bó hẹp trong chức phận sinh đẻ, nội trợ & không có tiếng nói trong gia đình, xã hội. Thế nhưng ở Hà Nội, nhiều cô đã sớm dám vượt qua định kiến đó. Năm 1927, một số cô đã thành lập ban kịch “Nữ tài tử’ & trình diễn vở “Trang tử cổ bổn” để lấy tiền ủng hộ đồng bào bão lụt , bất chấp phản đối của xã hội rằng con nhà gia giáo không nên “vác bộ mặt hoa da phấn lên sân khấu múa may quay cuồng”. Nhiều cô tập đi xe đạp phớt lờ những cái lườm nguýt của dân hàng phố. Số con gái Hà Nội đi học trường Pháp tăng lên nhanh chóng. Sự xuất hiện của các cô gái sống theo lối mới dần dần tạo nên phong trào “tân thời” trong những năm 30. Họ bỏ quần áo màu thâm, mặc quần trắng, áo trắng, rẽ tóc ngôi lệch, cạo răng đen, để răng trắng, dùng son môi. Các cô đi bơi ở Quảng Bá vào mùa hè, mặc quần sooc, đi bộ vào chùa Trầm, vào sàn khiêu vũ . Phong trào “tân thời” đã làm phố phường Hà Nội thay đổi với những cô gái duyên dáng trong chiếc áo dài Le Mur, áo dài Lê Phổ nhiều màu sắc.
Không chỉ biết buôn bán, biết làm đẹp, con gái Hà Nội còn rất khéo tay trong chế biến món ăn. Ở nông thôn , tay dao tay thớt trong những ngày trọng đại đều do đàn ông , nhưng ở Hà Nội lại là phụ nữ. Họ chế biến ra những món ăn tinh tế , cầu kì dù mất thì giờ & phiền toái. Bà dạy cho mẹ, mẹ lại dạy cho con gái, nên cái tinh tế còn lưu mãi đến ngày nay…
Và không ngoa ngôn, phố Hà Nội mất duyên nếu không có họ, Cầu Thê Húc đẹp hơn khi ngày Tết có các cô mặc áo dài vào đền lễ sau giao thừa , sen hồ Tây đẹp hơn , gần xa biết đến chính là nhờ các cô gái đọ dáng bên sen. Con gái Hà Nội hôm nay cũng hay lắm.”
Trong suốt chiều dài lịch sử, phụ nữ Hà Nội cũng không ngoài vòng quay ấy có những vai trò nhất định trong đời sống, cũng gánh vác công việc gia đình như đàn ông, cũng buôn bán khéo léo giỏi giang, lo cho chồng đi học thời phong kiến, ngoài ra họ còn có tình thương yêu người nghèo, đồng thời có lòng yêu nước. Phong cách ăn mặc lúc trước thì kín đáo tế nhị nhưng vẫn khéo “khoe” sự tinh tế, cũng như sự sang trọng của mình. “Tân thời” thì phong cách ăn mặc âu hoá , phá bỏ những điều cũ chưa tốt để hội nhập với xu hướng, phong cách ăn mặc của thế giới rất tân thời, hiện đại. Tân thời cả trong cách ăn mặc lẫn tư duy sống, dám thách thức ánh nhìn đám đông để thể hiện bản thân, nhưng cũng mang những điều tân thời đó làm từ thiện có ích cho đời. Vừa sành điệu , vừa kế thừa tấm lòng lương thiện, thương người của phụ nữ xưa, nhưng cũng không đánh mất các nét đẹp truyền thống như nấu ăn truyền từ bà qua mẹ và các con, cháu… Khiến ta phải thốt lên phụ nữ Hà Nội vừa mạnh mẽ song cũng rất dịu dàng, tinh tế và sống vì những điều đúng đắn, không chỉ sống cho mình mà cũng rất thiện lương, giàu lòng nhân ái với mọi người.
TẾT NGUYÊN ĐÁN Ở HÀ NỘI
“Tôi đã từng ăn nhiều cái Tết ở Hà Nội và các vùng miền khác nhau. Đó là những cái Tết thời bao cấp, phải xếp hàng dằng dặc mua chút gạo nếp mà hạt đã vàng ố để gói bánh chưng , ngóng chờ cha mẹ mở hộp mứt chỉ để ăn miếng mứt bí chảy nước . Đó là cái Tết sau đổi mới , ăn hùng hục như kẻ chưa bao giờ được ăn. Rồi cả những cái Tết “ăn đi xuống, uống đi lên”…
Ngoài gọc Tết nguyên đán, người Việt còn gọi là tết Cả. Bắt đầu từ ngày 23 tháng Chạp, người ta đã gọi là tết Ông Công, Ông Táo. Vào ngày này, thần nhà, thần đất, thần bếp trong truyền thuyết “2 ông 1 bà” thì Ông Công, Ông Táo cưỡi cá chép bay lên trời để lại dưới hạ giới 1 cảnh tượng hỗn loạn, vô chủ về tâm linh. Người ta làm cỗ cúng tiễn các ông chầu giời bằng cách mua cá chép sống rồi phóng sinh xuống ao, hồ. Ý nghĩa ở đây là từ trong cái chết đã gieo mầm sự sống. Và cũng ý đó, ngày này nhà nhà trồng cây nêu trước sân. Ngọn cây nêu là túm lông gà & miếng vải đỏ, Sự tích cây nêu Việt Nam là huyền thoại cổ đã được Phật hoá : trên cành tre treo áo cà sa của Đức Phật để xua đuổi bầy quỷ lợi dụng lúc cuối năm vô thần linh đã tiến vào đất liền tranh giành lãnh thổ với con người. Việc người xưa dùng vôi trắng vẽ cung tên lên sân nhà hướng về phía đông cũng xuất phát từ ý nghĩa là xua đuổi đêm tối. Và mặt trời đi ngủ nên phải dựng cây nêu để đón mặt trời, lấy cái cho ánh sáng đậu.
Nghi thức t2 quan trọng là lễ cúng giao thừa. Đêm 30 Tết tối đen như mực, vì thế dân gian ví đêm 30 uy lực như “ông hổ” , từ đó gọi hổ là ” ông ba mươi”. .. Cùng với cúng tổ tiên ở bàn thờ trong nhà thì nhà nhà bầy 1 mâm cỗ ở ngoài sân cúng đón Ông Công, Ông Táo về lại.
Sau đó là ý nghĩa của màu đỏ trong Tết là gì, thú chơi hoa của người xưa khi Tết đến xuân về.
… Cỗ Tết của người Thăng Long – Hà Nội to hay nhỏ tuỳ theo gia cảnh nhưng thường có 2 loại, loại 4 bát 6 đĩa & loại 6 bát 8 đĩa. 6 bát gồm : măng, bóng, mực, nấm thả, miến, mọc; 8 đĩa là : gà luộc, giò lụa, chả quế, trứng muối, dưa hành, bánh chưng, dứa xào lòng gà & cá trắm đen kho. Đời Lê, cỗ tất niên có thịt khỉ rang…
Cũng như các vùng miền khác, cỗ Tết Thăng Long – Hà Nội không thể thiếu bánh chưng. Bánh chưng có 2 loại là dài & vuông. Ngoài ra nhiều nhà còn cầu kỳ gói bánh chưng gấc thường dành cho người cao tuổi…
Mâm cỗ tất niên những năm 1930 của các gia đình Hà Nội ngoài món truyền thống không thể thiếu nem rán . Gốc gác của món nem rán là ở Sài Gòn , có tên là chả giò . Người đầu tiên đưa món này ra Hà Nội là bà Tân. Bà có chồng là Pháp vào Sài Gòn công tác đã học được cách chế biến. Sau đó về Hà Nội thì chồng bà qua đời nên bà mở quán nem rán cho đỡ buồn, cũng là để kiếm sống. Đầu tiên quán ở phố Hàng Quạt sau đó bà cải tiến món nem thay nhân thịt nạc bằng thịt ba chỉ, thay giá bằng su hào & cà rốt thái chỉ, cho thêm miến tàu . Bà không ướp bằng xì dầu mà thay bằng nước mắm. Nước chấm cũng cải tiến cho thêm su hào, cà rốt thái mỏng ăn kèm với rau xà lách. Quán sau đó đổi chủ do bà bị ốm và người chăm sóc bà khi ốm chính là người thanh niên làm thuê cho bà sau được bà nhận làm con nuôi & truyền lại công thức cho. Sau đó món ăn được nhiều người bắt chước và phổ biến ở Hà Nội.
Phải là người có tình yêu Hà Nội rất lớn và gắn bó cuộc đời mình với Hà Nội sâu sắc như thế nào, cộng với những kiến thức lịch sử, văn hoá và đời sống Hà Nội vô cùng phong phú. Thêm vào đó là sự tìm tòi, dày công nghiên cứu về các tài liệu lịch sử của một phóng viên, dẫn chứng minh hoạ chi tiết, kì công như thế nào để từ đó ta phải thốt lên ” Bấy lâu nay, mình tưởng mình cũng biết về Hà Nội nhiều, song so với sự dày công nghiên cứu cộng với một tình yêu to lớn và dành phần lớn đời mình cho Hà Nội thì mình chưa là gì cả. Với lối kể chuyện tự sự cộng với những dẫn chứng tiêu biểu, những mảnh ghép về Hà Nội lại cho chúng ta thấy tình yêu Hà Nội của tác giả cháy bỏng cỡ nào. Đi theo chiều dài của lịch sử cũng là một Hà Nội thay da đổi thịt từng ngày, đi cùng với chiều dài lịch sử đất nước hiện lên sang trọng, đẹp và rất đẹp trong những điều nhỏ nhặt và quen thuộc nhất.
LINK ĐẶT SÁCH
–Tiki: https://shorten.asia/q4zCSymx
-Shopee: https://shorten.asia/GqDXtjjy
–Fahasa: https://shorten.asia/QzSNsfVm

