Dựa trên hơn 400 bức thư của thiếu tướng Hoàng Đan & vợ là đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị An Vinh qua lời kể của tác giả Hoàng Nam Tiến về “Thư cho em” là mối tình vượt qua 2 thế kỉ của ba mẹ ông vừa hào hùng, vinh quang nhưng cũng rất lãng mạn đời thường, gắn bó chặt chẽ với thời đoạn quan trọng trong dòng chảy lịch sử dân tộc mà ông bà thuộc về.
Trai Nghi Lộc, gái Cửa Hội
Chuyện tình của ông bà rất nổi tiếng ở quê & nội bộ gia đình, bạn bè 2 bên, không chỉ bởi vai trò quá lớn của ông bà trong những năm tháng ấy, mà cả trong cách kể chuyện đầy hóm hỉnh & xúc động của ông. “Lúc nào khi kể về chuyện tình yêu là mắt ông sáng lên, miệng khi chúm chím khi ha hả, tay múa lên như đang thi triển những đường quyền, giọng kể sang sảng lôi cuốn đến mức con cháu không mấy khi bỏ ngang nhiều lúc vui quá quay ra trêu lại cả hai ông bà. Và khi ấy khắp nhà giòn giã tiếng cười.”
Cùng quê Nghệ An nhưng 2 ông bà có hoàn cảnh khác nhau. Ông tên đầy đủ là Hoàng Đan, sinh năm 1928 tại xã Nghi Thuận, Nghi Lộc, gần thị xã Cửa Lò. Gia đình ông là hậu duệ đời thứ 21 của Sát hải ĐẠi vương Hoàng Tá Thốn – một danh tướng thời Trần, có công lao to lớn trong cuộc kháng chiến của quân dân Đại Việt chống quân Mông Nguyên xâm lược.
Mới hơn 21 tuổi, ông đã chỉ huy 500 người, oai danh khắp vùng, đi khắp tỉnh đều nghe “quân ông Hoàng Đan”. Hồi đó ông rất đẹp trai cộng với tài ăn nói có duyên, khả năng hài hước nên rất nhiều người mến mộ. Mỗi khi ông cưỡi ngựa hồng, đeo côn , theo sau là đồng chí cần vụ với khẩu xì-ten vào làng là các cô gái đều ngắm nhìn ông rất ngưỡng mộ.
Bà là Nguyễn Thị An Vinh, sinh năm 1933 ở Cửa Lò, trong gia đình có bố buôn bán có tiếng. Nhà ông nghe nói trước đó giàu lắm, nhưng sau khi bố vướng phải cờ bạc, khi ông mất , gia cảnh hết sức nghèo túng. Khi 8 tuổi, bà Anh Vinh đã phải đi ở. Bà ở trong nhà bà Phượng, là chị gái của thiếu tướng Hoàng Đan. Gia đình bà Phượng đối xử với bà rất tốt, sau Cách mạng Tháng Tám, dù mang thân phận người ở, bà vẫn được cho đi học bình dân học vụ. Khi được đi học, bà vốn sáng dạ, chăm chỉ, lại thêm quyết tâm biết chữ để đổi đời nên học rất nhanh, học giỏi & được gia đình bà Phượng rất yêu quý.
Yêu quý & tin tưởng nên bà đã nhắm bà An Vinh cho ông, vì vậy nên bà Phượng đề bà học hết các bậc thời đó, để bà tương xứng với ông. Không biết bà có nghe tiếng và thầm mến “anh Hoàng Đan” như bao cô gái trong vùng thời đó không , nhưng mỗi khi ông cưỡi ngựa về làng, bà ngay lập tức sẽ chạy vào nahf thay tấm áo nâu mới – đấy là tác giả nghe ba kể thế, còn mẹ kiên quyết không nhận.
Từ hồi 17 tuổi ông đã thấy bà trong nhà bà Phượng – một cô bé gầy gò nhỏ xíu không có gì đặc biệt. BÀ từng nấu cơm cho ông ăn nhiều lần, cả 2 chạm mặt nhau nhiều nhưng không để ý gì đến nhau. Năm tháng trôi nhanh, đầu năm 1950, ông đóng quân ở ngay Mậu Lâm, khi ấy ông 22 tuổi nổi danh khắp vùng, bà là cô gái 17 tuổi, cũng đi học bình dân học vụ ở đây. Một hôm ông đi qua trường học kháng chiến cùng với quân của mình lúc trường tan học, ông thoáng thấy một “cô học sinh tiểu học” băng ngang qua mình. “Cô gái cao lớn nhất hội, mắt sáng long lanh, miệng cười rạng rỡ, tóc mái đằng trước cặp bồng lên, tóc phía sau dài đến eo lưng , buộc lại gọn gàng, trông vô cùng xinh đẹp.”
Từ nụ cười ấy, ông bắt đầu sống trong nỗi nhớ dịu êm, kể từ hôm đó, ông bắt đầu sang nhà bác Phượng chơi, ông đều gặp bà, đều nghe bác khen “cô em họ hàng” hết lòng. Còn hồi đó bà quyết tam tham gia kháng chiến, hoạt động trong hội phụ nữ tích cực. Nhiều người đặt vấn đề nhưng ai bà cũng từ chối với lý do vài năm nữa mới nghĩ đến chuyện có gia đình, vì bây giờ vẫn còn kháng chiến chưa thể lấy chồng vội. Và ai đánh tiếng hỏi bà cũng không thể “qua” được cánh cửa quan trọng là bác Phượng. Bac Phượng rất hay kể chuyện với bà về em trai mình hồi nhỏ tính tình ra sao, lớn lên thế nào, khi tham gia cách mạng cung gia đình thì gan dạ, mưu trí ra sao. Và tại lúc này, tại chiens khu Việt Bắc , tình yêu trong ông đã bắt đầu.
Xác định được mục tiêu, ông nhanh chóng hành động. Ông phát tín hiệu cho ba , nhờ gia đình “xin dâu”. Chính ông sau này đã viết ” …Anh vẫn tin nhất định chinh phục được trái tim em vì anh biết em chưa yêu ai. Cái đó chỉ 1 người như anh lúc đó hỏi vợi mới biết được, những người khác ít có may mắn đó vì anh đã có tay trong đắc lực. Nếu em đã yêu ai thì tất nhiên tay trong của anh phải biết.
Còn em chưa yêu ai thì làm sao em lại không yêu anh? Em nghĩ lại xem sao, có lẽ lúc ấy anh có chủ quan không?…”
Đầu năm 1953, sau khi viết thư cho ba & bác Phượng bày tỏ ý muốn ăn hỏi & cưới bà làm vợ (lúc này bà cũng chưa biết), ông đã thuyết phục chính ủy cho về hỏi vợ 1 ngày. Ông đã đạp xe về ngay trong đêm , nhưng khi về không thấy bà đâu cả. Chờ gần 12 giờ, bà về , bà đi họp phụ nữ trên huyện, tối ở lại sinh hoạt với chị em, khi tối có người báo “về ngay, mẹ bệnh nặng” , về đến nhà bà thấy mọi người đông đủ, ông ngồi giữa nhà. Đôi trẻ lúng túng nhưng người lớn trong nhà đã nói chuyện, bác Khuê & bác Phượng cử người xuống nấu cháo gà thật nhanh vì ông phải đi sớm.
Cứ như vậy, họ đã thành đôi. Hôm đó ngày 24/3/1953, đó cũng là ngày ông gửi cho bà bức thư đầu tiên viết vội trước giờ bước vào chiến dịch, khởi đầu cho mối tình 50 năm của họ.
THẮNG LỢI ĐIỆN BIÊN PHỦ, NGƯỜI LÍNH VỀ CƯỚI VỢ.
Sau lễ ăn hỏi chóng vánh, bà tiếp tục học bổ túc văn hóa & nghiệp vụ thuế ở Nghệ An. Năm 1954 đánh dấu cột mốc lớn của bà khi được cử lên Thái Nguyên học cao hơn, ông thì được điều động lên Việt Bắc bổ sung lực luongj, chuẩn bị cho chiến dịch Điện Biên Phủ. Vì vậy toàn bộ yêu thương của 2 người giai đoạn 1953-1954 được vun đắp bằng những cánh thư tay.
Ngay khi bắt đầu, 2 người đã xác định rõ quan điểm về tình yêu trong chiến tranh: tình yêu gắn liền với sứ mệnh giải phóng dân tộc , cùng nhau chiến đấu, cùng nhau cố gắng, cùng nhau học tập, cùng nhau hiểu & sẻ chia tính cách, tâm tình. Sau khi tiễn bà đi Mậu Lâm học, ông tiếp tục viết thư báo tin:
“…Thời gian tìm hiểu tuy ngắn ngủi, nhưng nhờ sự chân thành với nhau chúng ta đã cảm thông cho nhau. Chúng ta đã hoàn toàn thống nhất nhau trên quan niệm về tình yêu, trên xây dựng hiện tại & tương lai. Có lẽ đó là cái đẹp đẽ nhất của tình yêu em nhỉ.”
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, ông chỉ với 1 ba lô, 1 xe đạp , 1 tờ giấy giới thiệu đã đạp cả tuần , đã đạp xe tổng cộng 1300 cây số , cho tới khi nào tìm được vợ mình mới thôi. Trên đường đi, ông đói thì ăn cơm dã chiến ven đường, tối mệt thì tìm gốc cây tránh thú dữ, vượt đèo lội suối, sau 3 ngày sà sã ông đã tới Lạng Sơn & đã tìm thấy bà. Ông đã đồng ý với bà hai người cưới nhau nhưng chưa có con ngay để bà yên tâm công tác. Đó là sự tôn trọng cao nhất mà ông dành cho người mình yêu. Tại thời điểm cách đây 70 năm, phải rất yêu & nhất là có tư tưởng tiến bộ , một người đàn ông có thể chiều vợ đến thế.
Đám cưới được tổ chức đơn sơ tại núi rừng Việt Bắc, ông đi cưới vợ mà chỉ độc tờ giấy giới thiệu , chẳng có tiền nong lễ vật gì, nên cả 2 đều loay hoay chưa biết tổ chức thế nào.
Cuối cùng cô bí thư cơ quan bà có sáng kiến lấy tiêu chuẩn ăn mừng ngày Độc Lập 2/9 làm bữa cơm cưới. Quỹ phụ nữ cơ quan tặng bà 2m vải, lấy mấy tấm ván gỗ ngăn 1 góc nhà làm phòng cô dâu chú rể, anh em góp mỗi người vài bông hoa rừng để bữa tiệc thêm hương sắc, những lời chúc phúc ngọt ngào và trái tim yêu của 2 tâm hồn đồng điệu đủ tạo thêm đám cưới chọn vẹn, thế là họ thành vợ chồng.
Sau khi trở thành vợ chồng, ông cũng rất quan tâm đến việc học tập của bà, ông biến việc này thành “sinh hoạt tư tưởng” của cả 2 duy trì trong thời gian xa nhau. Trong thời gian công tác ở Lạng Sơn, ông gửi sách để bà đọc, bổ sung kiến thức. Họ giao hẹn cùng nhau đọc các tác phẩm văn học kinh điển thời ấy như “Thép đã tôi thế đấy”, các tác phẩm tuyên truyền lòng yêu nước, tinh thần dân tộc & chủ nghĩa xã hội như “Vượt Côn Đảo, Ký sự Điện Biên”…
ANH RẤT THÍCH NGƯỜI HAM HỌC
“Anh thích học & rất ham học nên anh cũng muốn người anh yêu như vậy, cái đó cũng không hại gì. Em tùy anh nhé.
Việc học cũng khó nhưng học tập Paven chúng ta sẽ thấy rõ không khó khăn nào không vượt qua được. Paven mù 2 mắt mà vẫn học hỏi được, không lẽ chúng ta lại không học được hay sao?
Có lẽ Paven không tích cực học thì sẽ không thể viết được những quyển sách giá trị như thế, em nhỉ.”
Cũng không khác nhiều phụ nữ mọi thời đại : bà rất hay dỗi. Cuối năm 1954, ông làm gì đó khiến bà viết thư đại ý “anh cho em biết anh đang tìm hiểu thêm ai”. Ông hóm hỉnh trả lời thư:
“Anh xin thành khẩn cung khai với cô Vinh rằng không phải tìm hiểu nữa mà anh đã cưới cô “An” cách đây 5 tháng rồi,. Cô ấy yêu anh lắm & anh cũng yêu cô ấy lắm. Đừng ghen với cô ấy nhé. Cô ấy hay giận anh & làm nũng với anh lắm đấy.
Thôi hết chuyện chờ thư sau. Nhưng nhớ nhận được thư mà không trả lời thì không bằng lòng đâu.
Gửi em một cái hôn
Anh
Đan”
Chuyện 2 người mong chờ nhất cũng đã đến, họ có đứa con đầu tiên là anh An, sau 2 năm nữa là chị Hồng.
“Em đã định đặt tên cho con là gì chưa? Anh cũng có ý định nhưng có lẽ hôm về gặp em bàn kỹ rồi sẽ đặt, vì ý anh thì con trai đặt tên khác mà gái đặt tên khác. Có thể đặt tên để kỷ niệm nơi sinh của nó, như vậy con trai thì đặt là Hà được (Hà Nội). Nhưng con gái thế không hay, con gái thì phải đặt là Hồng (sông Hồng Hà) hay là cũng có thể lấy 1 trong 2 chữ Thăng Long đặt tên cho con nếu là trai.
…
Em nên nhớ rằng nếu đẻ ra không chú ý nghỉ ngơi cậy thế khỏe mà làm lụng sớm thì rất hao sức khỏe về sau. Anh tin em cái gì cũng tin, nhưng có điều dặn em giữ gìn thì em ít ngh lắm, anh tin em hứa 1 nửa thôi, thành ra anh dặn kĩ nhé & nhớ là đã có lần không nghe anh thì có hại rồi đấy!
Em cần nghỉ ngơi hoàn toàn ít nhất là 15 đến 20 ngày & chú ý ăn uống thêm chút cho đủ sức khỏe….”
Ông được cử đi học Liên Xô tại trường Học Viện Quân sự Frunze , ông viết thư cho bà
“Anh nhìn đến đời chúng sau này anh càng thấy sung sướng vì dù sao anh cũng thấy được sự sống sung sướng là con chúng ta. Còn anh, anh đổi thanh xuân sôi nổi để cống hiến nó cho Tổ quốc, cho những năm chiến tranh. Cái sướng của tuổi thanh xuân của anh chủ yếu là sướng về tinh thần, còn vật chất thì đã phải trải qua nhiều gian khổ.
….Em lo & em phải cáng đáng mà cái đó em không giúp được gì cho em thiết thực nên anh cũng không muốn nói những câu động viên chung chung. Anh chỉ có thể nghe em tất cả, em xem anh có thể làm được gì thì em nói anh sẽ làm theo hết ý em.
Chỉ thế thôi, anh là của em & tùy em muốn gì anh cũng chiều lòng em.”
Sau khi ông đi nước ngoài học, cuộc sống của bà ở nhà rất bận rộn, chưa tới 6h sáng đã dậy chuẩn bị đồ ăn cho con & bố chồng., đi làm tại cửa hàng mậu dịch khi chưa đến 7h sáng. Buổi trưa quyết toán tiền hàng xong tạt về nhà nấu ăn phòng đến chiều ông & cháu đói, Chiều về nấu nướng , cho con ăn, rồi buổi tối lại đi học. Có nhiều hôm 12h mới về, lúc ấy bà sẽ ru anh An & chị Hồng ngủ, rồi xách nước từ tầng 1 lên tầng 4 nhà mình để hôm sau có nước dùng, tranh thủ tắm rửa, may vá… Xong xuôi bà mới viết thư cho ông. Dưới ánh đèn, một người đàn bà ngồi viết thư cho chồng, ngày qua tháng lại, qua mùa đông rét mướt sang mùa hạ nóng cháy, qua những đêm mệt nhoài vì công việc & việc nhà, qua những cái Tết không chồng…Bà vẫn viết, rất nhiều tuần không nhận được thư nào của ông, bà vẫn viết.
EM CÓ HAY NÓI CHUYỆN VỚI CON KHÔNG?
Ông có 1 cách chiều con, mà bà phải nhiều lần lắc đầu, bảo đúng là chiều đến “vô lối”!
Ngày đầu năm 1972, khi tác giả mới 3 tuổi ăn cơm bị trượt rơi vỡ bát, đột nhiên ông đứng lên , cười ha hả, ông lấy bát trên tay thả xuống, Tác giả thấy ba cũng làm vỡ bát như mình , tác giả cũng cười theo. Ông vào bếp lấy luôn 5 cái bát nữa & thả rơi, lúc đó mẹ cũng kinh ngạc, & khi lên ông, ông cũng rất chiều các cháu.
Khi sang Liên Xô, ông viết thư về dặn bà :
“Em cho con ăn thêm trứng sữa & hoa quả, cả em cũng thế nữa nhé. An cứ tiếp tục cho nó uống sữa cho thật đầy đủ sở thích của nó. Hàng tháng mua thêm cho con mấy lọ thuốc bổ trẻ con, nó thích cứ cho nó ăn. Còn em thì hàng tháng cứ 1 ít thuốc bắc cứ uống không bệnh gì thì cũng bổ. Nếu thiếu tiền anh sẽ gửi thêm. Bên này anh thừa tháng nào cũng còn 200-300 rúp, anh chẳng dùng làm gì. Cốt em và con khỏe là anh mừng rồi.”
Ông từng góp ý rất tỉ mỉ cho bà chuyện con ăn thế nào cho đủ chất, & sinh hoạt thế nào cho lành mạnh:
“Theo anh buổi sáng nên cho nó ăn 1 cốc sữa tốt hơn. Cho nó ăn sữa bột lại cũng tốt càng không đắt hơn bột dặm. Nếu nó không thích sữa thì nên cho nó 1 quả trứng gà cũng được. Ăn trứng gà 1 hôm 1 quả thì cũng không tốn tiền lắm.
Buổi chiều 2h thì nên cho nó ăn chuối hay uống 1 cốc nước chanh để có thêm chất tươi của hoa quả. Nếu nó không chịu ăn đòi ăn bột dặm thì đừng cho ăn bột dặm , tự khắc nó sẽ ăn chuối hay uống nước chanh…”
NHỮNG LỜI YÊU TỪ MẶT TRẬN 1967-1969
“Ngày 10/11/1967
Em
Thế là ngày mai anh lên đường. Không được gặp em lần nữa, mong em thông cảm. Chúng ta chịu hi sinh trước mắt để cho hạnh phúc sau này, hạnh phúc con chúng ta.
Anh rất thương em, có thể nói rất hạnh phúc có người vợ như em. Cũng như chúng ta rất hạnh phúc có 2 đứa con ngoan. Không phải anh không thương 2 con như em, nhưng chúng ta biểu lộ tình thương mỗi người 1 khác.
Anh đã chuẩn bị trước đầy đủ rồi. Anh gửi cái áo len. Em cất hay tháo ra đan cho em & con đều được. Tất cả thứ gì em cần cứ dùng , không phải hỏi gì anh, cứ lấy vải dạ mà may áo.
Tiền anh gửi về cho em, tùy ý em sử dụng. Nhưng anh muốn em chi tiêu như sau:
Mua 1 xe đạp cho em – 300 đồng
Mua 1 đồng hồ cho em – 100 đồng
Anh đã mua đồng hồ cho anh rồi. Áo len cộc tay mua được thì mua, không thì thôi.
Tiền ăn cho con, em gửi, còn tiền ăn cho thầy anh đã gửi rồi…
Muốn viết nhiều nhưng vội quá. Mong em và con khỏe. Sẽ viết nhiều thư cho em.
Anh của em,
Đan”
Một câu chuyện tình tình vượt qua 2 thế kỷ của vị tướng với người vợ rất hào hung mà cũng đầy dịu dàng, trìu mến, yêu thương như bao nhiêu cặp đôi bình thường khác rất đẹp & khiến chúng ta cảm động về làm sao để gìn giữ hạnh phúc gia đình, những hi sinh thầm lặng vì nhau & để hiểu nhau hơn, phát triển & sánh bước cùng nhau trong sự nghiệp lẫn trong hôn nhân…trong gần 50 năm của một cặp vợ chồng tại “Thư cho em”.
LINK ĐẶT SÁCH:
–Tiki: https://shorten.asia/raAp5tWh
–Shopee: https://shorten.asia/1dVbQjdv

